U gan lành-tính – nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán, điều trị & bệnh lý

Các khối u lành-tính là các khối tế bào không thể xâm nhập các mô và cơ quan lân cận và do đó chúng thường không được cho là ung thư (cancer). U gan lành-tính thực sự khá phổ biến, và thường không gây ra bất kì biến chứng nghiêm trọng nào và có ba loại chính: u lành mạch máu dạng hang (cavernous hemangiomas) tăng sản nốt khu trú (focal nodular hyperplasias) và u tuyến tế bào gan (hepatocellular adenomas). U mạch máu dạng hang là dạng phổ biến nhất đó là các khối tế bào nội-mô (endothelial cells) lót bên trong các mạch máu tại gan phồng to khi chúng ta nhìn trên mẫu mô học này chúng ta thấy những khoảng không gian trong mạch máu khổng lồ trông giống như những hệ thống hang động. Nói cách khác, thay vì máu chảy qua ống, thì máu lại chảy qua cái hang động khổng lồ với các tế bào nội-mô rải rác khắp nơi. Mặc dù các khoang mạch máu này nhìn có vẻ rất lớn trên mẫu mô học, nhưng thường thì các vết tổn thương thì tương đối nhỏ thường nhỏ hơn khoảng 1,5 cm và do đó không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. trong vài trường hợp hiếm hơn, với những tổn thương to hơn có thể gây ra vài cam nang dieu triệu chứng và trong những trường hợp rất hiếm, có thể gây vỡ khối u và chảy máu trong (khoang phúc mạc). Phát hiện và chẩn đoán nhưng u mạch máu này có thể được thực hiện qua xét nghiệm hình ảnh như siêu âm (ultrasound), chụp cắt lớp vi tính (CT scan) và chụp cộng hưởng từ (MRI). Loại phổ biến thứ hai của u gan lành-tính là tăng sản nốt khu-trú (focal nodular hyperplasia) hay gọi tắt là FNH. Chúng giống như là những nốt kết tụ (nodular) do tế bào gan sinh sản nhanh chóng trong một khu vực nhất định (focal) Thực tế thì FNH là loại u lành tính không liên quan đến mạch máu trong gan phổ biến nhất và thường được phát hiện ở nữ nhiều hơn nam, nhưng có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào. Về cơ bản đây, là một thuật ngữ được dùng một cách lỏng lẻo miêu tả khi có các nốt hay các khối kết tụ trong tế bào gan có vẻ lành tính được tìm thấy trong gan. Đến nay, chúng ta thực sự không biết tại sao chúng được hình thành? nhưng có vài ý kiến cho rằng có thể là do đáp ứng với một loại tổn thường mạch máu nào đó dẫn đến việc các tế bào gan tăng tốc độ sinh sản và hình thành những khối kết tụ tế này. Một ý kiến khác cho rằng nó là kết quả của một tổn thương mạch máu mà hầu như luôn có một mạch máu lớn bất thường ở trung tâm với những nhánh nhỏ lan tỏa ra vùng ngoại biên. Và để ủng hộ cho giả thuyết này người ta hầu như luôn phát hiện mô-sẹo xơ-hóa tại mạch trung-tâm (centralized fibrous scar tissue) tạo ra bởi các tế bào hình sao của gan (stellate cells) đó là một loại tế bào trung-mô (mesenchymal cell) tạo xơ hóa trong quá trình lành sẹo. Theo mẫu mô học bạn cũng sẽ thường thấy mô xơ đôi khi gọi là mô-vách xơ. Chẩn đoán thường được thực hiện bằng CT-scan tìm kiếm những các khối tế bào, trong hầu hết các trường hợp tăng-sản nốt khu-trú chỉ được phát hiện tình cờ khi có kiểm tra sức khỏe định kỳ không cần xử lý các khối u này, trừ khi có triệu chứng đau nhức. Một loại u lành-tính của gan khác loại này hiếm hơn nhiều đó chính là u-tuyến gan (hepatic adenomas). Những u này được cho tạo thành từ các tế bào biểu mô gan (epithelial cells) và phát triển bình thường tại gan. Nhưng trong tình trạng u-tuyến thì các tế bào gan này to ra, mất chức năng, và chứa nhiều glycogen và lipid hơn bình thường. Các mô xung quanh các tuyến bị u này thường sẽ tăng sinh mạch máu mạnh và không có các ống mật (bile ducts) và các vùng mạch-cửa. Môt lần nữa, cũng như biểu hiện của tăng-sản nốt khu-trú, chúng ta không biết rõ vì sao u-tuyến gan hình thành nhưng một sự khác biệt quan trọng đó chính là sự liên hệ mật thiết với việc sử dụng thuốc có chứa estrogen đặc biệt là thuốc ngừa thai đường uống (oral contraceptives) hoặc các loại steroid chuyển hóa tổng hợp khác (anabolic steroids). Trước khi thuốc ngừa thai (đường uống) ra thị trường, thì rất hiếm thấy những tình trạng u tuyến gan và một khi tăng việc sử dụng thuốc ngừa thai cũng như tăng liều lượng thì có liên quan trực tiếp cao hơn đến tình trạng u-tuyến gan. Hơn nữa, khi thuốc ngừa thai liều-thấp được tung ra thị trường thì số trường hợp mắc bệnh cũng giảm theo. Tuy vậy, làm thế nào estrogen ảnh hưởng đến sự phát triển của u-tuyến gan vẫn chưa được hiểu rõ. Một giả thuyết cho rằng estrogen có thế đã gắn kết với thụ thể estrogen trên bản thân của chính tế bào gan và gây ra sự chuyển đổi tế bào gan bình thường thành tế bào u-tuyến gan, mặc dù nó có thể liên quan rất nhiều đến yếu tố bẩm sinh (yếu tố có khuynh hướng bẩm sinh) trong gene hay một đột biến gene đặc biệt nào đó với các liệu pháp dùng estrogen (estrogen-based). Cùng với OCP, bệnh di truyền dự trữ glycogen, đặc biệt là bệnh von Gierke, cũng liên quan mật thiết với u-tuyến gan bệnh nhân mắc bệnh von Gierke có những tế bào gan không thể tạo ra glucose từ glycogen qua quá trình tân tạo glucose (gluconeogenesis). Điều không được hiểu rõ là tại sao sự thiếu hụt này lại dẫn đến u-tuyến gan. Mặc dù ít phổ biến hơn so với các loại u lành-tính khác, u-tuyến gan lại rất dễ vỡ và dẫn đến xuất huyết bên trong (internal bleeding) đặc biệt là trong khi mang thai. Nếu bệnh nhân u-tuyến gan đang sử dụng thuốc ngừa thai đường uống (OCP) thì nên ngưng ngay hoặc giảm liều u-tuyến thường có xu hướng giảm bớt, tương tự như vậy đối với bệnh nhân mắc phải chứng von Gierke nên kiểm soát chế độ ăn uống thường xuyên xét nghiệm mức đường glucose trong máu các hormone insulin và glucagon có thể dẫn đến sự cải thiện và thậm chí là chữa khỏi bệnh u-tuyến gan.